caroline thanh huong

caroline thanh huong
catbui

Libellés

samedi 3 mai 2014

Tiếng hát Lệ Thanh - (2)


Tiếng hát Lệ Thanh - 1


"DUONG THI, MOT VAI..." của MINH DI bien soan. KY 3.

Kính thưa Độc giả các Diễn Đàn,
Kính thưa qúy vị thích làm thơ,
Bài “Đường thi, Một vài...” của anh Minh Di biên soạn, Tạp Chí Dân Văn cho đăng tải, để, trước hết gởi đến qúy độc giả bốn phương, và riêng tặng qúy vị thích làm thơ, đâu đó đăng tải trên báo in, trên các Diễn Đàn...
Ngược giòng Lịch Sử, chúng ta đã xử dụng tiếng Hán làm ngôn ngữ chung cho cả nước, bao nhiêu “trước tác” của cha ông viết bằng Hán văn, chữ Nho chỉ  được ngưng không dùng nữa mới đây thôi...

Documentaire 5 - Vietnam: En Direct De Saigon (1967/1970)/ Documentaire 6 - Vietnam: Adieu Saigon (1970-1975)

Documentaire 3 - Vietnam: Dien Bien Phu (1953-1954) Documentaire 4 - Vietnam: Oncle Sam Contre Oncle Ho (1954-1967)

Documentaire 1 - Vietnam: La perle de l'empire (1900/ 1945)/ Documentaire 2 - Vietnam: La guerre oubliée (1945-1952

Colonisation francaise du Vietnam

Le Piège Indochinois - chapitre 2 - Documentaire COMPLET

Le Piège Indochinois - chapitre 1 - Documentaire COMPLET

La guerre du Vietnam: Son histoire et ses dates clés

I AM NOT VIETNAMESE

* Ca trù - Một loại hình nghệ thuật độc đáo ( VƯỜN CVA 5461)


* Ca trù - Một loại hình nghệ thuật độc đáo

đăng 10:48 23-10-2010 bởi Thuan Khuc   [ cập nhật 10:40 12-03-2013 bởi Nguoi gac vuon Ngv ]
Ca trùmột trong những loại hình âm nhạc truyền thống của Việt Nam. Xuất hiện vào đầu thế kỷ XVI, trải qua những biến cố thăng trầm lịch sử, có lúc tưởng chừng như không thể tồn tại được, nhưng với những đặc trưng về loại hình nghệ thuật độc đáo, sự phối hợp tuyệt vời giữa ca từ và giọng hát hoà cùng các nhạc khí: phách, đàn đáy, trống chầu… cho tới ngày nay, ca trù đã khẳng định được vị trí quan trọng không chỉ của Việt Nam mà của cả nhân loại. Đây là môn nghệ thuật dân gian đang được Việt Nam đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại.

Saigon năm xưa: Bài thứ 4



Vương hồng Sển

PHẦN THỨ HAI
THỬ TÌM HIỂU BỞI ĐÂU MÀ CÓ DANH TỪ SÀI GÒN

Cuộc mở mang bờ cõi giải quyết xong, nay bắt qua tìm hiểu về lai lịch đất Sài Gòn.
Về danh từ “SÀI GÒN”
Đại Nam Quốc Âm Tự vịcủa Huỳnh Tịnh Của viết:
__:Sài tức là củi thổi.
__:Gòn tên loại cây có bông nhẹ xốp, nhẹ hơn bông thường, trong Nam hay dùng để dồn gối, dồn nệm, ngoài Bắc gọi làcây bông gạo (kapok, kapokier).
Điều nên nhớ là thuở cựu trào, mỗi lần chạy sớ tấu ra kinh, mỗi moxi lấy Hán tự làm gốc. Các quan trong Nam thuở ấy, để gọi thành“Sài Gòn” đều viết hai chữ nôm như vầy _________. Viết làm vậy, nhưng đến khi đọc thì luôn luôn đọc là“Sài Gòn”. Về sau, có nhiều người, đọc“Sài Côn”, tưởng rằng đúng. Ngờ đâu, đọc như thế là phản ý người xưa, tôi muốn nói những người cố cựu miền Nam của đất Gia Định cũ. Cũng như có một ông tướng tên làVõ Tánh , vốn người Gò Công, nay rất nhiều người đọc tên ông làVũ Tính . Lại như tên một trái núi trên Biên Hòa, thuở nào đến nay, quen gọi là“núi Châu Thới”. Nay thường nghe nhiều học giả đọc và viết “núi Chu Thái”, chúng tôi không dám nói gì, nhưng thiết tưởng đến ông Trời cũng phải chịu! Còn đến như nguyên do làm sao cổ nhân khi trước ghép chữ Hán“Sài” ____ với một chữ Nôm”Gòn” _____làm vậy thì thú thật tôi xin chịu bí! Nói nhỏ mà nghe, dốt nát như tôi, tôi hiểu rằng khi ông bà ta thiếu chữ“gòn” không biết phải viết làm sao, thì ông bà cứ mượn chữ“côn” thế tạm, có hại gì đâu, hại chăng là ngày nay con cháu không muốn đọc y như ông bà lại dám chê xưa kia ông bà ta quá dốt!

Về miền Tây thưởng thức món khoai lang ba khía

Hương vị quê hương ...
Người đưa bài: regalvn   
10/03/2014
Khoai lang là một loài cây trồng quen thuộc ở Việt Nam nói chung và miền Tây Nam bộ nói riêng. Trong vườn nhà hay ngoài ruộng gò sau khi thu hoạch lúa xong, người nông dân tận dụng đất trồng khoai. Đọt và lá non được dùng như Rau xanh trong bữa ăn thường ngày. Đọt lang có thể để sống ăn với cá lóc nướng trui, chuột khìa hay chấm mắm kho, … Không ăn sống thì đem luộc chấm với mắm chua cay, cá kho ăn cũng rất bắt cơm. 

* Chuyện một giọng ca yêu nước : Đặng Lệ Quân (trích VƯỜN CVA 5461 )


* Chuyện một giọng ca yêu nước : Đặng Lệ Quân

đăng 18:03 14-08-2013 bởi Nguoi gac vuon Ngv   [ đã cập nhật 17:56 14-09-2013 ]
Thực hiện : NGV
 
Trong chúng ta ít ai là không từng nghe qua ca khúc “ Mùa thu lá bay”   một ca khúc Trung Hoa chuyển lời Việt  và được thể hiện  thành công bởi nữ ca sĩ  Kim Anh.
Mùa thu lá bay là tên bài hát trong bộ phim Thái Vân Phi (彩雲飛) của Đài Loan (tên tiếng Anh là The Young Ones, tiếng Việt là Mùa thu lá bay). Phim được chuyển thể từ tiểu thuyết của Quỳnh Dao và được  chiếu vào năm 1973. Tên tiếng Trung Hoa của bài hát là: 千言万 (thiên ngôn vạn ngữ), được dịch là "nghìn lời nói, vạn câu thề". Bài hát đã được ca sĩ Đặng Lệ Quân thể hiện rất thành công.

vendredi 2 mai 2014

Bánh bao xíu mại – Cách làm bánh bao cho trắng, bông xốp



Người đưa bài: theo LeLan   
07/03/2014
Bánh bao làm bằng bột mì đa dụng nếu ủ bột vừa đến thì bánh vẫn trắng, bánh nở bung, xốp rất ngon. Công thức bánh vẫn như lần trước nhưng hôm nay làm nhân xá xíu.
Nguyên liệu: Cho khoảng 6 cái to hoặc 8 cái nhỏ vừa

Món chay Đậu hủ ky cuộn rau củ


|
Người đưa bài: Richangyinshi   
18/05/2013
Đây là một món chay được chế biến với các nguyên liệu rất đơn giản và dể tìm,món ăn nhẹ nhàng và không ngán,cùng với nước sốt chua chua của chanh và ngọt từ từ mật ong,sẽ mang đến cho bạn một món ăn lạ miệng và cũng không kém phần hấp dẫn.

Hủ tiếu bà Năm Sa Đéc



Người đưa bài: Bích Nga   
21/03/2014
Dù thành danh, có tên tuổi nhưng sau năm 1973 do đời sống sân khấu, điện ảnh khó khăn nên bà Năm Sa Đéc đã bươn chải, mở quán hủ tiếu ở Sài Gòn. Tên tuổi của bà bước đầu đã đảm bảo cho quán, nhưng để giữ được chân khách là do hủ tiếu quá ngon.

Bà Năm Sa Đéc và học giả Vương Hồng Sển - Ảnh: tư liệu

“Thương hiệu” độc đáo

Bộ ảnh Sài Gòn của Hugh (Bill) Quattlebaum (sinh năm 1951) là một cựu chiến binh Mỹ có mặt ở Việt Nam vào năm 1972 - 1973.

Hugh (Bill) Quattlebaum (sinh năm 1951) là một cựu chiến binh Mỹ có mặt ở Việt Nam vào năm 1972 - 1973. Trong thời gian này, ông đã chụp lại những hình ảnh quý hiếm về Sài Gòn cách đây hơn 40 năm.



Phố phường Sài Gòn năm 1972


 

SàiGònăm xưa, tác giả VươngHồng Sển.


SÀI GÒN CHUYỆN XƯA TÍCH CŨ



SÀI GÒN I với người Hoa
19682020goc20hienvuongSau 1975 Sài Gòn bị đổi tên, nhưng điạ danh Sài Gòn đã in sâu trong tâm hồn người dân miền Nam luôn yêu quý, và Sài Gòn không bao giờ bị lãng quên. Ông Vương Hồng Sển (1902-1996), là một nhà văn, học giả, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng. Ông viết nhiều tác phẩm biên khảo giá trị đóng góp rất lớn vào kho tàng văn học nước nhà. Tác phẩm viết về SÀI GÒN:

Nguyễn Hiến Lê đọc "Cuốn Sài Gòn Năm Xưa" Của Vương Hồng Sển.


  photo EE454D9C-210B-440F-B680-76C4B8DEA978_w640_r1_s.jpg

Tác giả: Nguyễn Hiến Lê

Đọc cuốn “Sài Gòn Năm Xưa” của học giả Vương Hồng Sển, ta có cảm giác thoải mái, dễ chịu quá.

Tôi nhớ những buổi ngả lưng vào ghế tràng kỷ trong ngôi nhà cổ chưng bày toàn đồ cổ của tác giả mà nghe tác giả kể chuyện “đời xưa”, từ chuyện các chánh tham biện, chuyện các cụ đường cựu tới chuyện tản cư, chuyện con voi sở thú... Lời rất bình dị, tự nhiên, có duyên: cứ mê đi mà nghe và mỉm cười cho tới khi nào thấy làm mất thì giờ của chủ nhân quá rồi thì cáo từ mà ra về.

Tác giả kể chuyện làm sao thì chép lại thành sách như vậy.

Đây xin độc giả nghe ông vào chuyện:

Bởi thấy tôi là người trong Nam, đầu pha hai thứ tóc, làm việc trong một cơ quan chuyên môn, thêm có tánh ham chơi cổ ngoạn, tom góp giấy má cũ đầy nhà, rồi tiếng đồn truyền ra: tôi sành sỏi chuyện xưa, tôi giỏi kê cứu điển cổ, báo hại phần đông văn hữu Bắc và Trung, ông nào quen một đôi lần, gặp nhau, hết năm ba câu lấy lệ, làm gì cũng hỏi vặn tôi về:


“gốc tích hai chữ “SÀI GÒN”.

Thật là thân mật, tự nhiên, xuề xòa.

Rồi ít hàng như sau:

Đối với các bạn nhỏ hiếu học, tôi xin nói lớn:

1) - Chỗ nào các bạn thấy mới, đừng sợ: ấy tôi đã cân nhắc kỹ càng, cứ tin cứ dùng: “coi vậy mà xài được!”

2) - Chỗ nào chưa “êm”, nhờ các bạn chỉ giùm, nếu tìm cách bổ khuyết càng tốt, gọi giúp lẫn nhau: già thua trẻ không xấu, mắc cỡ bậy, hay gì?

Chắc độc giả đã được mỉm cười rồi chứ?

Suốt hai trăm trang in chữ nhỏ, toàn là một giọng như vậy. Thỉnh thoảng điểm những tiếng cổ mà chúng ta chỉ thấy trong các sách báo in từ đầu thế kỷ, hoặc nghe ở những chốn quê mùa, do những cụ tám, chín chục tuổi thốt ra. Chẳng hạn:

- Tôi không dám chắc đúng cả, nhưng “ăn trầu gẫm mà nghe” bây giờ không nói còn đợi lúc nào?

- Lâm cảnh lưỡng đầu thọ địch...

- ... hẹn hậu nhựt tri

- ... chết ba mươi đời vương

- ... trổ sanh nghề lạ

- ... trối kệ

Lại thêm những tiếng rất tự nhiên chỉ dùng trong một vài giới:

- ... đi la mát nơi đây.

- ... chiều chiều thả “xích-phê” đường Catinat, giày “ăn phón”...

- ... dện[1] áo “u-hoe”, tay lo le điếu xì gà tàn, thì duy có mấy cô mấy ỷ đời ấy biết cho.

- ... xa tít mù tè.

Có chỗ tác giả như mời người ta cởi áo ngoài ra cho thảnh thơi hơn nữa để nghe ông kể tiếp:
“Đèn nhá nhem, người bu đông đến múc cháo không kịp, thêm tuổi vừa đôi mươi, “ăn sắt cũng tiêu”, ghế bàn không có, mỗi người tự biện lấy, đứng húp ngon lành, ngó mặt nhau vẫn quen quen: Cô Ba Trà, ông cò mi Kính và tớ đây, kẻ còn người mất, đứa bạc đầu!”.

Vế trong câu thường ngắn - năm sáu tiếng một - ít dùng liên từ lại gần đối nhau, bằng trắc nhịp nhàng, làm cho ta sực nhớ rằng tác giả là người rất mê hát bội:

“Xưa người thưa đất rộng, xây nhà đếm căn, nay đất ít nhà đông, cất nhà kể từng...”

“Trước còn bánh đặc, phần đường sá gồ ghề, mê sức chạy mau mà quên đau... sau có bánh bộng, nhưng xe nổ vỏ thì có lấy tay mà bụm!”

Cuối câu thường hạ tiếng trắc y như nói lối.

Không biết cảm tưởng của độc giả ra sao chứ tôi thì thấy vui vui, nhớ lại những ông già búi tóc mà đội nón Tây và những bà già ngoáy trầu trên những bộ ngựa. Nhưng tôi phải thú thực rằng mặc dầu bút pháp đó gợi cho ta cái không khí của thời xưa, mà thời này dùng nhiều quá thì cũng ít người thưởng thức.

Sách chia làm tám phần.

- Phần thứ nhất tựa như đoạn mở đầu, nhắc qua lại cuộc Nam tiến của tổ tiên từ thế kỷ thứ XI đến năm 1780, Mạc Thiên Tứ mất, đất Hà Tiên sát nhập vào cơ đồ chúa Nguyễn. Tác giả nhấn mạnh vào sự bình định và khai phá cõi Nam, vào công lao của các chúa Nguyễn, của Nguyễn Hữu Kính, Nguyễn Cư Trinh, và họ Mạc ở Hà Tiên.

Nữ sĩ Mộng Tuyết và học giả Vương Hồng Sển, mỗi người dùng một thể tài, một nhà viết truyện, một nhà viết sử, hai nhà cùng một lúc nhắc nhở công lao tổ tiên một cách cảm động, sự không hẹn mà gặp đó cho ta thấy rằng phong trào ôn cố lúc này đương lên.[2]

Trong phần này, Vương quân đưa ra một nhận xét rất xác đáng là tổ tiên chúng ta đã không chiếm đất Nam này của người Miên vì hai lẽ:

- Đất này trước kia không phải của người Miên mà của người Phù Nam.

- Khi tổ tiên ta tới đây thế kỷ 17 thì tuy đã có người Miên, nhưng dân thưa đất rộng, Việt Miên tha hồ khai phá không hề xảy ra những sự xung đột để có thể nói rằng dân tộc này tranh của dân tộc khác.

- Qua phần thứ nhì, tác giả bắt đầu nói về Sài Gòn. Ông xét vết tích những dân tộc đã ở trên khu đất mà ngày nay là Sài Gòn, tức là người Phù Nam, người Miên, người Trung Hoa, và tổ tiên ta, để tìm xem danh từ Sài Gòn từ đâu mà ra. Ông kết luận rằng Sài Gòn thời Miên là Prei No**r[3] (nghĩa là xứ ở giữa rừng); Trung Hoa tới lập một khu buôn bán gọi là Đề Ngạn (Chợ Lớn ngày nay), và người Việt tới lập một khu khác, gọi là Bến Thành (Sài Gòn ngày nay).

Đề Ngạn mà phát âm theo giọng Quảng Đông thì nghe ra “Thầy Ngồnn” hay “Thì ngồnn” hay “Tài ngòn”. Sài Gòn có lẽ do đó mà ra, chứ không phải do Prei No**r.

Tôi không biết các sử cũ có viết là Đề Ngạn hay không, chỉ thường thấy ngày nay nhiều người viết chữ Hán chữ Đê Ngạn với Đê: bộ thổ, nghĩa là cái đê, còn Đề Ngạn với Đề: bộ thủ, nghĩa là nắm lấy[4]. Nhưng chắc là Vương quân biết rõ hơn tôi.

- Trong phần thứ ba, tác giả nghiên cứu vị trí ba thành xây ở Sài Gòn hồi xưa và ghi lại những lễ nghi phong tục thời Quan Lớn Thượng, tức Quan Tả Quân Lê Văn Duyệt. Dinh Tả quân nay không còn gì, chỉ còn lại cái tên Vườn Ông Thượng (Hoa viên Tao Đàn).

- Qua phần thứ tư, tác giả trở lại tìm vị trí của Prei No**r, Đề Ngạn, và Bến Nghé. Đoạn này giá đưa lên phần thứ nhì thì gọn hơn.

Rồi ông dắt ta đi dạo xem phố phường Sài Gòn ngày xưa, bắt đầu từ Cơ Thủy Xưởng, Cột Cờ Thủ Ngữ, tới Khánh Hội, vô Chợ Lớn, trở về Chợ Quán, phủ Tổng Thống, qua Thị Nghè...

Đoạn này khá dài trên bốn mươi trang. Tới mỗi nơi ông chỉ cho ta hồi xưa tại đó có dinh thự, chùa chiền, chợ búa nào, ông lại giảng cho ta nguồn gốc những tên như Ba Son, nhà Rồng..., kể những chuyện thuộc về ngoại sử, giải nghĩa những chữ như bắc thảo, tàu kê, gùi đội..., chép những bài thơ cổ, chẳng hạn bài thơ vịnh Mai Sơn Tự, dẫn những câu ca dao...
Những ai ở Sài Gòn đã lâu đọc đoạn đó chắc rung động một niềm hoài cổ man mác nửa vui nửa buồn.

Riêng tôi, tôi nhớ lại lần đọc đoạn hai ông đồ rủ nhau đi thăm thành Thăng Long trong một tiểu thuyết của Nguyễn Triệu Luật. Kỹ thuật của họ Nguyễn và họ Vương khác nhau xa, mà cảm xúc gây trong tâm hồn tôi thì cũng vậy.

Khi dắt ta tới Chợ Quán, tác giả ngừng trước một nhà cổ và kể cho ta nghe chuyện một bà cụ chơi đồ cổ. Chuyện xảy ra đầu thế chiến vừa rồi. Tác giả lúc đó mới ngoài ba chục tuổi mà bà cụ đó đã trên tám mươi, mới gặp nhau lần đầu, mà đã hiểu nhau, trẻ thì kính già mà già thì mến trẻ, chỉ do hai bên cùng là những người sành đồ cổ cả. Đoạn đó tác giả viết cảm động nhất và cho ta thấy rõ cái sở thích và sở trường của ông.

- Trong phần thứ năm, Vương quân tiếp tục tả và kể lai lịch các cổ tích chung quanh Sài Gòn Chợ Lớn, các chùa chiền, các giáo khu và cho ta hiểu sơ sơ sự bành trướng của Thiên Chúa Giáo tại địa phận Sài Gòn.

Đầu phần có tả một vụ bốc mả khá cảm động và tác giả đề nghị nhà nước nên sớm thảo điều lệ bảo vệ lăng cũ, mộ xưa nếu không thì miền Nam nầy sẽ chẳng còn gì về mỹ thuật và cổ tích.

- Ba phần cuối, phần thứ sáu, thứ bảy, và thứ tám, gồm 50 trang, đọc vui nhất. Đời sống nhân vật “bản xứ” và Tây, Tàu, hoặc thanh cao, hoặc lố lăng, đê tiện, tàn nhẫn, quỷ quyệt từ hồi Tây đến tới hồi Tây đi, hiện lên rõ ràng trước mắt chúng ta.

Ông mỉa mai bọn “hầu cận các quan Tây”, bọn: Tiếng Tây không biết, tưởng vinh trong đời.
Tây đã đi, nhưng bọn nầy thì vẫn còn và chung quanh ta vẫn nhan nhản một lũ tự hào rằng nói tiếng Pháp như người Pháp mà không mắc cỡ rằng nói tiếng Việt không thông.

Ông oán giận “bọn mãi quốc cầu vinh” - vinh hay nhục nhỉ? - tàn sát đồng bào hồi Tây “bình định” xứ nầy; ông còn nhân từ không vạch mặt chỉ tên họ ra, nhưng độc giả nào mà không nhận ra được chúng.

Ông khâm phục các học giả như Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của, những vị “chỉ say đạo lý và học hỏi, sống đất Tào mà lòng giữ Hán” rồi ông kết:

“Nghĩ theo tay dao tay súng làm nên sự nghiệp như những nhà kia (tức là bọn bán nước), nhưng khi nhắm mắt, sự nghiệp hoen ố lụn bại, sao bằng một ngòi bút, một nghiên mực, sự nghiệp văn chương truyền cửu của ba ông tiền bối này mới thật quý và thơm”.

Còn vô số nhân vật nữa, từ các nhà giàu (nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Định), đến các nhà báo (Diệp Văn Cương, Nguyễn Chánh Sắt...) đến huê khôi Cô Ba con thầy thông Chánh mà ba chục năm trước, hồi còn ở Hà Nội tôi đã được trông thấy hình trên các con tem và các giấy thấm rao hàng xà bông, song không biết là của ai, đến bọn làm giàu nhờ buôn bán hoặc cờ bạc, bọn chỉ học được hai tiếng “ùy” và “no” mà bỗng nhiên phát triệu phú. Trong phần này còn những tài liệu tuy vắn tắt mà quý về các vụ Phan Xích Long năm 1913, và vụ Khám Lớn Sài Gòn năm 1916. Trang nào cũng đầy những tài liệu đáng tin cho những nhà sau này viết sử hoặc lịch sử ký sự.

Đoạn kết hơi ngắn (chỉ một trang) nhắc lại những điều kiện mà Sài Gòn có đủ để thành một đô thành tối tân.

*
* *

Như tôi đã thưa với độc giả sự hiểu biết của tôi về sử miền Nam không đủ cho tôi phê bình tài liệu của Vương quân. Tôi chỉ xin góp ít ý nho nhỏ ở dưới đây:
Tác giả cho rằng danh từ du côn có lẽ do bọn anh chị ở Sài Gòn hồi xưa mà có, vì họ hay dùng những đoản côn bằng sắt hay bằng đồng để hộ thân. Tôi tưởng danh từ đó đã có từ trước nữa, mà bọn anh chị đó không phải là bọn đầu tiên ở nước ta và nước Trung Hoa thường dùng đoản côn để tự vệ.
Tác giả bảo cây gòn ngoài Bắc gọi là cây “bông gạo”. Hai cây đó tuy cùng một loại, người Pháp cùng gọi một tên (kapokier hoặc faux cotonier), nhưng thực ra khác nhau: cây gạo rất cao lớn, cao như cây sao, gốc lớn có khi có thể đến hai ôm, hoa tuy giống hoa gòn nhưng cánh đỏ như máu và lớn hơn nhiều: lúc mãn khai để chật một cái chén ăn cơm. Trên hai chục năm trước, tôi có thấy ở giữa châu thành Sóc Trăng gần bờ sông Sở Thủy lợi một hai gốc gạo cổ thụ, không biết nay còn sống không.
Vương quân đưa ra một thuyết để giải nghĩa tiếng trường tiền:
“Sở Công Chánh ngày nay, tục quen gọi “Trường Tiền” có phải là vì bộ Công khi xưa chuyên việc đúc tiền nên nay tên gọi tên làm vậy?”
Thuyết đó có thể đúng. Tôi được nghe một thuyết khác cũng không hoàn toàn vô lý, xin ghi lại đây. Trường Công Chánh Hà Nội là một trong những trường cao đẳng thành lập sớm nhất, chỉ sau trường Y Khoa. Hồi mới đầu các sinh viên toàn là nội trú và ở một ngôi nhà đường Paul Bert tại Hà Nội. Đường này gọi là đường Trường Tiền vì hồi xưa có sở đúc tiền ở gần đó. Nơi nội trú đó do vậy được người Nam gọi là trường Trường Tiền, và các sinh viên Trung Nam ra học thành tài trở về xứ thành các ông Trường Tiền, mà sở các ông ấy làm thành ra Sở Trường Tiền. Ta nên để ý rằng chỉ miền Nam mới gọi Sở Công Chánh là Sở Trường Tiền, còn miền Bắc gọi là Sở Lục Lộ.
Tác giả có ý bảo những nhân, địa danh miền Nam như Võ Tánh, Châu Thới, thì phải đọc theo giọng Nam chứ không được ra giọng Bắc: Vũ Tính, Chu Thái. Điều đó rất hợp lý. Mướn xe hơi đi chơi núi Châu Thới mà nói là đi chơi núi Chu Thái thì tài xế làm sao hiểu được. Nhưng thế nào cũng có lúc ta phải thống nhất giọng nói Nam Bắc, lúc đó sẽ rắc rối đấy.
Còn tiếng Sài Gòn thì đúng như Vương quân đã nói, cổ nhân thiếu chữ gòn, phải mượn chữ côn thế tạm; vậy côn đó phải đọc là gòn tất nhiên rồi, nếu đọc là côn thì bậy lắm.

*
* *

Quả như lời Vương quân nói trong bài tựa: “Coi vậy mà xài đươc”. “Xài được” bộn kia đấy. Kẻ ít học như tôi còn thấy là có lẽ xài được gần trọn kia đấy. Chúng ta nên cảm ơn ông đã ghi lại - mặc dầu là hơi hấp tấp trong sự trình bày - vô số tài liệu mà trong mấy chục năm ông đã tốn công đạp một chiếc xe máy[5] đi sưu tầm ở khắp Sài Gòn, Chợ Lớn, và các vùng lân cận rồi về nhà cân nhắc lựa chọn với một tinh thần trân trọng đáng khen: chỗ nào chưa đủ chứng cớ thì tồn nghi.

Có đọc cuốn Le Déchiffrement des Écritures trong đó Ernts Doblhofer kể cái công tìm tòi, suy luận, trong hàng chục năm của hàng chục nhà bác học để viết lại được một chương ngắn về cổ sử Ai Cập, Ba Tư, hay Mésopotamie... mới thấy được rằng phần ai biết được một tài liệu gì về sử cũng có bổn phận phải chép lại bằng cách nào cũng được, miễn thận trọng và thành tâm là quý rồi. Nếu không vậy thì thực khổ tâm cho những người sau muốn tìm hiểu những người trước...

Nguyễn Hiến Lê
(Tạp chí Mai số 20, ngày 25/04/1961)

[1] Trong tư liệu nguồn ghi “dện”, tôi tạm giữ nguyên, nhưng trong Sài gòn năm xưa (bản ebook) ghi là “diện” (trong câu: “diện áo “u hoe” (veston ouvert), tay lo le điếu xì gà tàn…”. (Goldfish).
[2] Trên bán nguyệt san Mai số 20, ngoài bài giới thiệu và phê bình cuốn Sài gòn năm xưa của Vương Hồng Sển, cụ Nguyễn Hiến Lê còn có bài điểm sách Nàng Ái cơ trong chậu úp của Nữ sĩ Mộng Tuyết. (Goldfish).
[3] Trong ebook Sài Gòn năm xưa chép là: “Prei Kor”. (Goldfish).
[4] Có lẽ ý cụ Nguyễn Hiến Lê muốn nói rằng “ngày nay” người ta thường viết chữ Hán là 堤岸 (Đê Ngạn) với chữ 堤 (Đê - bộ thổ 土), chứ không phải 提岸 (Đề Ngạn) với chữ 提 (Đề - bộ thủ 扌). (Goldfish).
[5] Ngày nay thường gọi là xe đạp. (Goldfish).

TT Bonsai trình bày món bánh tay cầm gói cá

Bộ ảnh về chiến tranh Việt Nam của Philip Jones Griffiths




Philip Jones Griffiths (1936 - 2008) là một trong những phóng viên ảnh chiến trường huyền thoại trong cuộc chiến tranh Việt Nam.
Đến miền Nam Việt Nam để đưa tin cho hãng thông tấn Magnum (Anh) vào năm 1965, ông đã thực hiện nhiều bức ảnh khiến người xem bàng hoàng khi phơi bày sự thật trần trụi về cuộc chiến phi nghĩa do Mỹ tiến hành ở Việt Nam. Những bức ảnh đó đã góp phần thức tỉnh trái tim hàng triệu người yêu chuộng hòa bình trên thế giới...
 

Miền Nam Việt Nam trước 1975 qua ống kính René Burri



Gái điếm Sài Gòn chờ khách, lính tăng phê thuốc phiện, trẻ em vác vỏ đạn pháo, mặt đất lỗ chỗ hố bom... là những hình ảnh do nhiếp ảnh gia René Burri chụp ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975.
René Burri (sinh năm 1933) là một nhiếp ảnh gia Thụy Sĩ làm việc cho hãng thông tấn Magnum của Anh. Ông nổi tiếng thế giới với những bức ảnh chụp các sự kiện chính trị, lịch sử, chân dung các nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn của thế kỷ 20. René Burri đã có mặt tại nhiều điểm nóng trên thế giới, trong đó có Việt Nam vào các năm 1963, 1973 và thực hiện nhiều bức ảnh giá trị tại đây.
Khung cảnh nhìn từ khoang lái của trực thăng chiến đấu VNCH, 1963.

Bộ ảnh cuối cùng của phóng viên huyền thoại Robert Capa ở Việt Nam những năm 1954/ 1955



Ngày 25/5/1954, phóng viên chiến trường huyền thoại Robert Capa đã tử nạn với chiếc máy ảnh trên tay vì trúng mìn khi di chuyển từ Nam Định đến Thái Bình...
Hình ảnh nằm trong loạt ảnh cuối cùng trong sự nghiệp của Robert Capa, được thực hiện trong vài ngày trước khi ông mât.
Hình ảnh được đăng tải trên website của hãng thông tấn Magnum, Anh.
Lính Pháp bị thương ở Luang Prabang (Lào) được chuyển ra máy bay trực thăng để đưa về Hà Nội, tháng 5/1954.

Phóng viên David Douglas Duncan Phóng sự ảnh của LIFE về sự tàn khốc của trận Khe Sanh


Tạp chí LIFE số ra ngày 23/2/1968 đã đăng tải một phóng sự ảnh gây sốc do phóng viên David Douglas Duncan thực hiện về chiến trường Khe Sanh, Quảng Trị...
Trong màn sương bao phủ khu vực thung lũng bị đạn bom cày xới, các lính thủy đánh bộ Mỹ căng thẳng chờ đợi động thái tiếp theo của quân đội Giải phóng đang bao vây xung quanh. Trong một tuần qua, họ đã phải gánh chịu sức ép dồn dập từ hỏa lực của đối phương. Không ai ở bên ngoài có thể hình dung được thực tế ở Khe Sanh: 5.000 lính của Trung đoàn 26 như những con bò thiến bị buộc một chổ để làm mồi cho hổ.

Huy Phương viết “Nước mắt (cũng) chảy xuôi”

Mời click vào txem và giới thiệu Blog Thành Phố Gió: http://bachhacthanhphogio.blogspot.com
 


Người Việt có câu “Mười con không nuôi được cha mẹ” nhưng bao giờ “Nước mắt (cũng) chảy xuôi”. Có lẽ đó cũng là kiếp luân hồi của con người.

Anh Trương Giang giới thiệu thơ, nhạc, truyện...nhiều tác giả

Lời Hay Ý Đẹp :Đừng Than Khóc...Bởi Đời Người Rất Ngắn.

http://www.thukhoahuan.com/index.php?option=com_content&view=article&id=16283:ng-than-khoc--bi-i-ngi-rt-ngn&catid=255:li-hay-y-p&Itemid=448

Thơ tranh : CÔ GÁI VĨNH LONG.
Thơ : Songthy.
Design thơ tranh : Kim Loan

http://www.thukhoahuan.com/index.php?option=com_content&view=article&id=16272:co-gai-vnh-long&catid=240:th-tranh&Itemid=390

Tâm sự một dòng sông _ Nhạc sĩ: Mai Phạm

Than goi Thanh Huong,

Goi kem LINK Youtube - bai hat "Tam su 1 dong song"  


https://www.youtube.com/watch?v=KVYQCrkXQ7Q

Than chao va cam on,
Mai Pham

Nghe nhạc Ái Hoa: Nỗi Lòng Thuyêǹ Nhân

Xin được chia sẻ với quý vị một lần nữa, để cùng thương tiếc những nạn nhân thuyền nhân.
Xin cùng cầu xin cho những oan hồn được siêu thoát và thân nhân họ bớt buồn đau.
Trân trọng,
Ái Hoa

jeudi 1 mai 2014

Phóng sự chiến trường của nữ ký giả Kiều Mỹ Duyên"CHINH CHIẾN ĐIÊU LINH"

CHINH CHIẾN ĐIÊU LINH



Lời mở đầu

Phóng sự chiến trường của nữ ký giả Kiều Mỹ Duyên

Trước năm 1975, là một phóng viên chiến trường, tôi có dịp theo bước chân hành quân của các chiến sĩ miền Nam Việt Nam khắp bốn vùng chiến thuật. Hơn mười lăm năm làm báo, tôi đã viết nhiều về sự can đảm và hào hùng của người lính miền Nam, những kẻ đã hy sinh quá nhiều cho người khác được ấm no, hạnh phúc. Dù hôm nay, chung cuộc như thế nào, trong lòng tôi, những hình ảnh oai hùng và sự hy sinh cao cả của các anh, vẫn không bao giờ phai lạt. Cuốn sách này như một đóa hồng nhỏ gửi đến tất cả chiến sĩ QLVNCH để tri ân và để tưởng niệm những chiến sĩ đã đi vào lòng đất mẹ.

Cuốn sách này hoàn tất với sự giúp đở của thầy Trần Bích Lan, anh Tạ Tỵ, anh Nguyễn Hòa, chuyên viên về Đông Dương tại Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ, cùng tất cả quý vị quen biết, bạn bè, những nhân vật trong truyện, đã bổ túc nhiều dữ kiện và cho mượn hình ảnh. Đặc biệt, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh cho phép dùng những bức ảnh nghệ thuật của anh. Xin cám ơn tất cả với lòng chân thành.

Kiều Mỹ Duyên


Lời Tựa

Góp nhặt buồn vui thời điêu linh - Chợ trời

Góp nhặt buồn vui thời điêu linh - Chợ trời

- Mại dô… Mại dô… Đồng hồ mười hai trụ đèn, không người lái, hai cửa sổ… Xem thử đi các đồng chí… Cái đồng hồ này đáng giá cả một gia tài, nhưng bây giờ chỉ bán với giá ủng hộ…
- Chụp ảnh lấy liền chỉ mất 30 giây bằng máy Polaroid tối tân của Mỹ… Chụp đầy đủ cả bộ Đạp-Đổng-Đài để làm kỷ niệm… Chỉ còn một ít giấy ảnh, chụp ngay kẻo hết... Giá chỉ một ngàn đồng Ngụy một tấm…
Vài chú bộ đội tần ngần dừng chân đứng lại, một chú thắc mắc:

Audio book "ĐEN HƠN BÓNG TỐI" - HOÀNG HẢI THỦY phóng tác

ĐEN HƠN BÓNG TỐI - HOÀNG HẢI THỦY Phóng tác theo tiểu thuyết (PIÊGES POUR CENDRILLON) ** do MAI VÂN NGỌC diễn đọc ** 14 tap
Clique vào link bên dưới để nghe playlist

Đọc sách Điểm Tưạ Của Niềm Tin

http://fr.slideshare.net/ttd_start_now/im-ta-nim-tin-phn-1 
( 1 )
http://fr.slideshare.net/maipm3/im-ta-nim-tin2
( 2)
http://fr.slideshare.net/maipm3/im-ta-nim-tin-phn-3
(3  )
http://fr.slideshare.net/maipm3/im-ta-nim-tin-phn-4
( 4 )
http://fr.slideshare.net/maipm3/im-ta-nim-tin-5
(5  )

Mẹo cắt cà chua nhanh

Chỉ một thao tác đơn giản, chị em đã cắt xong cà chua với số lượng nhiều rồi!
Bếp Eva giới thiệu đến độc giả Ẩm Thực 3 miền Bắc Trung Nam, chia sẻ cách chế biến Món Ngon Mỗi Ngày hấp dẫn, dễ làm và cả những mẹo hay nhà bếp. Đừng ngần ngại chia sẻ những kinh nghiệm Nấu Ăn của bạn trên Eva.vn.


Thông thường, để cắt cà chua làm salad, chị em sẽ phải cắt từng quả một. Tuy nhiên, để rút gọn thời gian và công đoạn, chị em có thể tham khảo cách làm dưới đây nhé:

Chuẩn bị:

- 2 chiếc đĩa bằng nhau, không sâu lòng

- Cà chua, kích cỡ bằng nhau, số lượng tùy ý

- Dao sắc, mỏng

Thơ Bất Khuất tháng tư

Thân gỏi đến các bạn cùng khoá Bất Khuất và các HT, NT thân hửu của khoá bài " Kỷ niệm tháng tư buồn" của
tôi mới làm.

Phước 352

Gần bốn mươi năm cuộc chiến tàn

Nhưng hồn tử sĩ vẫn chưa tan

Ai đem binh lửa vào cuộc chiến

Để nước non buồn một màu tang


Mỗi tháng tư về dạ mang mang

Vận nước cho nên phải tan hàng

Một thời Bất Khuất đành buông súng

Một thoáng trong ta thấy ngỡ ngàng…

La Chute de Saigon le dernier jour le 30 Avril 1975 / Bilan de la Guerre du Viêt Nam.



30 Avril 1975 Saigon tombait aux mains des Nords Vietnamiens
Jean Lartegy retrace cette douloureuse période , ou nous tous amoureux de ce pays avons laissez notre coeur. Nous ne sommes pas restés très longtemps après la disparition de la république du Sud Vietnam , les médias ont étés chassés de Saigon quelques jours plus tard et la repression a comencé
Philippe Buffon Tous droits réservés
EXPOSITION PHOTOS DE PHILIPPE BUFFON LA CHUTE DE SAIGON



http://www.philippebuffon.com/Saigon


Les dernieres semaines de Saigon et sa chute le 30 avril 1975.
Films 16 mm réalisés et montés par l'auteur, alors pédiatre à l'hôpital Grall.

 http://youtu.be/pAPPYJ8uZfY

Bilan


Marine américain à Đà Nẵng le 3 août 1965, lors de la Guerre du Viêt Nam.

Bombardements

Au total, les États-Unis ont largué 7,08 millions de tonnes de bombes durant ce conflit29 (par comparaison, 3,4 millions de tonnes ont été larguées par l'ensemble des alliés sur tous les fronts de la Seconde Guerre mondiale30).

Pertes humaines

Des millions de Vietnamiens sont morts des conséquences de la guerre. Les registres officiels sont difficilement consultables, quand ils existent, et nombreux parmi les tués furent littéralement déchiquetés par les bombardements. Il est ainsi très difficile de s'accorder exactement sur ce qui doit compter comme « victime de guerre du Viêt Nam » ; des gens sont encore aujourd'hui tués par des sous-munitions non explosées et des mines, particulièrement les bombes à sous-munitions. Les effets sur l'environnement des agents chimiques, tels que l'agent orange, un défoliant très utilisé par les Américains, ainsi que les problèmes sociaux colossaux causés par la dévastation du pays après tant de morts ont certainement réduit la durée de vie de beaucoup de survivants. Par ailleurs, la contamination d'une partie de sols entraine aujourd'hui encore de graves problèmes de santé (malformations à la naissance, hypertrophie, rachitisme, cancer des poumons et de la prostate, maladies de la peau, du cerveau et des systèmes nerveux, respiratoire et circulatoire, cécité, diverses anomalies à la naissance) surtout dans les campagnes[réf. nécessaire].

Les estimations de pertes les plus basses, basées sur les déclarations (à présent reprises) du Nord Viêt Nam étaient autour de 1,5 million de Vietnamiens tués. Le Viêt Nam a annoncé le qu'un total d'un million de combattants et deux millions de civils(y compris le Sud) avaient été tués durant la guerre. Les estimations pour les décès seulement dans la gamme de 50.000 à 65.000.
Les pertes du Sud Viêt Nam sont estimées à 255 000 militaires et 430 000 civils tués, dont 80 000 en 1974, soit plus que toute autre année de guerre, alors que les forces américaines avaient été évacuées.
Le bilan pour les forces armées américaines est estimé à 58 177 soldats tués et 153 303 blessés pour un total de 8 744 000 militaires ayant participé à un moment ou à un autre à ce conflit31.
Sur les 46 852 soldats australiens qui ont participé à la guerre du Viêt Nam, 492 ont été tués et 2 398 ont été blessés[réf. souhaitée].
Officiellement, 16 militaires soviétiques sont morts durant ce conflit au Viêt Nam et 5 au Laos32.
Le nombre de morts de 1965 à la fin du conflit se situerait au-dessus de trois millions33. Dans les années 1980, des estimations américaines situent le nombres de victimes causées par la répression et à l'exode après 1975 au-dessus du demi-million, dont 65 000 à 100 000 exécutions par le régime communiste, 150 000 à 175 000 prisonniers disparus, le reste étant des boat-people34.
source

( http://fr.wikipedia.org/wiki/Guerre_du_Vi%C3%AAt_Nam)

"Hứa Với Tao", thơ Trần Văn Lương

Dạo:
     Trải qua một cuộc đổi đời,
Mấy ai còn giữ được lời thề xưa.

Cóc cuối tuần:


          Hứa Với Tao

Thằng bạn vàng nối khố của tao ơi,
Đã mấy chục năm trời chưa gặp lại,
Kể từ buổi hai thằng cùng xuống bãi,
Mày thoát đi, tao thất bại quay về.

Tao mừng vui, dù đói rách ê chề,
Đoán mày chửa quên câu thề năm trước,
Vì thiên hạ về ăn chơi lũ lượt,
Chưa thấy mày theo bước họ lon ton.

Nhưng mưa lâu đá núi cũng phải mòn,
Sợ mai mốt mày không còn như cũ,
Nên tao muốn gởi đôi lời nhắn nhủ,
Tạm gọi là để thủ thỉ cùng nhau.

Không cần mày gửi tiền bạc cho tao,
Chung quanh khổ làm sao tao vui sướng.
Cần mày hứa đừng phụ lòng tin tưởng
Của toàn dân đang vất vưởng trông chờ.

Hứa với tao mày sẽ chẳng bao giờ,
Nối đuôi những kẻ trở cờ theo giặc.
Và đừng để lợi danh làm tối mắt,
Mà thay lòng trở mặt với tổ tiên.

Hứa với tao đừng tính chuyện đem tiền,
Về làm chủ rồi ăn trên ngồi trước,
Trong khi đó, kẻ làm công xuôi ngược,
Hiếm khi nào kiếm được bữa cơm no.

Hứa với tao, dù cửa rộng nhà to,
Đừng bày đặt dở trò làm "từ thiện",
Mà thực tế chỉ tạo thêm phương tiện,
Cho bạo quyền vĩnh viễn ở trên ngôi.

Hứa với tao đừng tính chuyện ăn chơi,
Trên thân xác những người con đất Việt.
Hãy nghĩ đến những đắng cay oan nghiệt,
Quanh dân ta đã siết chặt bao đời.

Hứa với tao dù vật đổi sao dời,
Phải luôn nhớ mày là người tị nạn,
Không chấp nhận lũ bạo tàn Cộng sản,
Nên xuống thuyền liều mạng bỏ ra đi.

Hứa với tao mày sẽ chỉ "vinh quy",
Khi lũ giặc man di không còn nữa,
Khi dân chúng có tự do chọn lựa,
Khi nhân quyền về lại giữa giang san.

Hứa với tao mỗi độ Tháng Tư sang,
Hãy đứng dưới lá Cờ Vàng khấn nguyện,
Hãy nhớ đến những người cùng chiến tuyến,
Và những ai vượt biển đã không còn.

Hứa với tao mày sẽ nhắc cháu con,
Luôn nghĩ đến dải non sông nước Việt
Đang dần mất vào trong tay lũ Chệt,
Và dân mình đang xiết nỗi lầm than.

Hứa với tao đừng nghe lũ Việt gian,
Sáng "hòa hợp", chiều oang oang "hòa giải",
Vì mỗi bận chúng lu loa lải nhải,
Là chúng đang tính kế hại đồng bào.

Hứa với tao, mày hãy hứa với tao,
Dù thời cuộc có thế nào đi nữa,
Vẫn giữ hoài ngọn lửa,
Mai sau về thắp giữa non sông.

Mày hứa đi để tao được yên lòng,
Ngày ngày bán vé số rong kiếm sống,
Nhưng ít nhất còn tí ti hy vọng,
Chế độ này sẽ chóng bị dẹp tan.

Tao tin mình sẽ không mất giang san,
Nếu may mắn toàn dân Nam hết sợ,
Và đâu đó vẫn có người trăn trở,
Vẫn như mày luôn nhớ đến quê hương.
                            x
                      x          x
Người thương binh hãnh diện đứng rưng rưng,
Nào có biết cách chừng mươi dãy phố,
Thằng bạn cũ  – "thằng bạn vàng nối khố" –
Đang xun xoe, miệng hô hố nói cười.
                  Trần Văn Lương
                  Cali, 30/4/2014

"Saigon Nỗi Nhớ Niềm Thương", thơ, Youtube de Caroline Thanh Hương/ "Ailleurs" poésie de Caroline P

Đây là một trong những youtube thực hiện đã lâu, nên còn nhiều sơ suất, tôi vẫn giữ nguyên không sửa đổi đề ghi nhớ lại những gì thật lúc ban đầu mới bắt tay vào chuyện thực hiên những slide show thơ , nhạc...

Caroline Thanh Hương

a

NHỮNG (45) NHẠC PHẨM VIẾT SAU 1975 CÓ TÊN SÀI GÒN

NHỮNG (45) NHẠC PHẨM VIẾT SAU 1975 CÓ TÊN SÀI GÒN
Không kể những bài nổi tiếng, như Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt (Nam Lộc), Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên (Nguyễn Đình Toàn), Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn (thơ Du Tử Lê, nhạc Phạm Đình Chương)... được hát do nhiều ca sĩ ai cũng biết và ai cũng có thể nghe dễ dàng, tôi tìm được những bài nhạc sau đây trong tên có có chữ Sài Gòn được sáng tác sau 1975.
Có nhiều bài do các người viết nhạc chưa có tiếng chỉ thấy hát một lần, nhưng cũng vài bài do nhạc sĩ nổi tiếng sáng tác, nhưng cũng không thấy mấy ai hát.
Các bài hát xếp không theo thứ tự gì cả, bài nào nhớ đến hay tìm ra hoặc tác giả gửi về trước sẽ giới thiệu trước (ngoại trừ bài... cuối cùng)
Mời cùng xẹm/nghe:
1.Sài Gòn Thuở Đó Làm Sao Quên (nhạc và lời Lê Khắc Bình) tác giả hòa âm và hát: 

mercredi 30 avril 2014

26 NHẠC PHẨM VIẾT SAU 1975 CÓ TÊN SÀI GÒN


Không kể những bài nổi tiếng, như Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt (Nam Lộc), Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên (Nguyễn Đình Toàn), Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn (thơ Du Tử Lê, nhạc Phạm Đình Chương)... được hát do nhiều ca sĩ ai cũng biết và ai cũng có thể nghe dễ dàng, tôi tìm được 26 bài nhạc tên có có chữ Sài Gòn được sáng tác sau 1975.
Có nhiều bài do các người viết nhạc chưa có tiếng chỉ thấy hát một lần, nhưng cũng vài bài do nhạc sĩ nổi tiếng sáng tác, nhưng cũng không thấy mấy ai hát.
Các bài hát xếp không theo thứ tự gì cả, bài nào nhớ đến hay tìm ra hoặc tác giả gửi về trước sẽ giới thiệu trước (ngoại trừ bài... cuối cùng)

Mời cùng xẹm/nghe: 

1.Sài Gòn Thuở Đó Làm Sao Quên (nhạc và lời Lê Khắc Bình) tác giả hòa âm và hát:
http://youtu.26 NHẠC PHẨM VIẾT SAU 1975 CÓ TÊN SÀI GÒNbe/xjBjdkpAH7A

2. Nhớ Sài Gòn (?tác giả) Hoài Nam hát:

3. Nhớ Sài Gòn (?tác giả) Phương Thanh hát:

4. Nhớ Sài Gòn (Anh Bằng & Trúc Giang) Lê Tâm hát:

Nghe và đọc truyện "Con chó vện và người tù cải tạo " Nguyễn Vĩnh Long Hồ.

Kính gửi quý anh chị câu truyện  của Nguyễn Vĩnh Long Hồ.

Caroline Thanh Hương




 


Trên bước đường lưu đày của những người tù chính trị Miền Nam đầy máu và mồ hôi trên chính quê hương của mình, đã có bao nhiêu người “sinh Nam, tử Bắc” và trong số nầy có anh Lê Xuân Đèo là cánh chim lìa đàn rất sớm.

Phim Xưa về Việt Nam ( tài liệu số 6 Năm Ròm )


Phim Xưa về Việt Nam ( tài liệu số 6 Năm Ròm ) par crth2837

Phim Xưa về Việt Nam ( tài liệu số 5 Năm Ròm )


Phim Xưa về Việt Nam ( tài liệu số 5 Năm Ròm ) par crth2837

Phim Xưa về Việt Nam ( tài liệu số 4 Năm Ròm )


Phim Xưa về Việt Nam ( tài liệu số 4 Năm Ròm ) par crth2837

Phim Xưa về Việt Nam ( tài liệu số 3 Năm Ròm )


Phim Xưa về Việt Nam ( tài liệu số 3 Năm Ròm ) par crth2837

Phim Xưa về Việt Nam ( tài liệu số 2 Năm Ròm )


Phim Xưa về Việt Nam ( tài liệu số 2 Năm Ròm ) par crth2837

Phim Xưa về Việt Nam ( tài liệu số 1 Năm Ròm )

Khi miền Bắc di cư vào Nam...



Phim Xưa về Việt Nam ( tài liệu số 1 Năm Ròm ) par crth2837

lundi 28 avril 2014

Sương Lam Đọc sách Cũng Vui Lắm

 Thưa quý anh chị,
Kính mời quý anh chị đọc thử xem đọc sách có vui không nhé.  Smile!

 Sương Lam

 Đọc sách Cũng Vui Lắm
 photo sach1.jpg





Nói đến chuyện đọc sách thì không phải ai cũng thích đọc sách hết vì mỗi người mỗi tính, mỗi sở thích khác nhau.  Có người thích đọc tiểu thuyết, có người thích đọc truyện kiếm hiệp, có người lại thích đọc sách văn chương nghệ thuật, có người thích đọc sách khoa học kỹ thuật, có người thích đọc sách tôn giáo tâm linh và cũng có người thích đọc sách chính trị, binh thư chiến lược v..v

Những bài xướng hoạ bạn thơ Đỗ Quý Bái.


dimanche 27 avril 2014

Chương trình audiobook Huỳnh Chiêu Đẳng sưu tầm: "Tư Duy Thông Minh".


Chương trình Nghe Đọc Truyện của Huỳnh Chiếu Đẳng sưu tầm "Mười Nghịch Lý Cuộc Sống"

Mười Nghịch Lý Cuộc Sống
"Cuộc sống chúng ta luôn có những nghịch lý - những người bản lĩnh và cao thượng luôn biết chấp nhận và vượt lên những nghịch lý đó.

Tác phẩm nổi tiếng Anyway - 10 nghịch lý cuộc sống của Tiến sĩ Kent Keith đã trở thành một cuốn sách kinh điển và được bạn đọc trên thế giới yêu thích về sự độc đáo và thẳng thắn về trải nghiệm cuộc sống. Cuốn sách liên tục được bình chọn là một trong những tác phẩm bán chạy nhất nhiều năm liền và đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ.

Điểm đặc biệt nhất của Anyway chính là ý nghĩa sâu sắc và thực tế của tác phẩm đã tác động đến nhiều đối tượng độc giả khác nhau, mang lại những khoảng lặng cần thiết để suy nghĩ về một cách sống cao thượng và hế mình. Tác giả Kent Keith chính là một minh chứng cụ thể và xác thực cho cách sống này. Ông đã viết và dành cả cuộc đời mình để chứng minh cho những chân lý đó.















Bộ ảnh Tàn tích cổ của ngôi chùa lớn nhất thời Lý

Đăng ngày Thứ tư, 12 Tháng 3 2014 22:37
Các dấu tích còn lại đến ngày nay cho thấy ngôi chùa được mệnh danh là đại danh lam thời Lý được xây dựng trên quy mô rất lớn với mặt bằng rộng hơn 7.500m2.
Chùa Dạm nằm trên núi Lãm Sơn (ngày nay thuộc xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh), tên chữ là Đại Lãm Thần Quang tự, là đại danh lam từ thời Lý với lịch sử gần 1.000 năm. Dù đã bị thời gian hủy hoại, nhưng những tàn tích còn được lưu giữ sau một thiên niên kỷ đã cho thấy quy mô to lớn và giá trị nghệ thuật của ngôi chùa xưa.

NGƯỜI LÍNH LẪM LIỆT GIỮA THÁNG TƯ HUNG HÃN (Phan Nhật Nam)

 


(Trích, “NHỮNG CỘT TRỤ CHỐNG GIỮ QUÊ HƯƠNG” NẮNG MỚI MIỀN NAM, CALIFORNIA 2003)
Đến những dòng chữ cuối cùng của tập Ký Sự này tự bản thân có cảm giác kiệt sức, sụp xuống. Cũng có thể vì phải đọc, phân loại, biên soạn khối tài liệu quá lớn về một cuộc chiến tranh liên quan đến nhiều giới người, nhiều phe phái, diễn ra một quá trình lâu dài, tác động nghiêm trọng đối với lịch sử của nhiều quốc gia. Cuộc chiến mà những phe tham dự mãi đến hôm nay vẫn chưa có những kết luận chung nhất…
Tại sao và do đâu đã nẩy sinh ra một tình thế bi thảm và bế tắc đến như thế ? Tại Sao và do đâu mà trận chiến đã mãi kéo dài với hậu quả khốc hại mấy mươi năm qua hằng khoét sâu vào tâm thức, trí nhớ của mỗi người. Người Mỹ lẫn người Việt, kẻ gọi là thắng lợi ở trong nước kia, hoặc người phải chịu cảnh nước mất nhà tan sau lần xé cờ, gãy súng. Cũng một phần do những lý do vừa kể ra, nhưng phần lớn, phần sâu xa nhất là buộc phải thấy lại toàn bộ tình cảnh oan khốc của chiến tranh mà không ai xa lạ, chính là toàn khối người Việt, tập thể Quân Đội, Gia Đình, Bản Thân từng chịu đựng. Hôm nay sống lại đủ với giây khắc đớn đau của mỗi phận người. Người Việt Nam, Người Lính miền Nam hằng tuyệt vọng bi tráng cam đành trong buổi tháng 4.1975.
Tuy nhiên, gần ba mươi năm sau năm tháng khổ nạn kia, người trong cuộc, những người lính của chiến trường xưa vẫn canh cánh tấc lòng sắc son nhờ nước, với mỗi người dân mà họ đã hiến thân khắc kỷ, cao thượng chiến đấu bảo vệ, giữ gìn. Cuộc chiến đấu chưa hề nói thành lời tuyên công ấy hôm nay vẫn tiếp tục.

QĐVNCH: NHỮNG CHIẾN THẮNG BỊ LÃNG QUÊN (Bùi-Đại và Đặng-Vũ Tùng)


VRNs (25.04.2014) – Sài Gòn – Dư luận thường chỉ hiểu rất sơ sài về Chiến tranh Việt Nam qua một vài phim ảnh về sự thất thủ của Sài Gòn năm 1975. Tức là sự chiến thắng hiển nhiên của quân du kích “anh hùng” trước một quân đội miền Nam thối nát mà binh lính chỉ chực trốn chạy theo Mỹ chứ không muốn chống giữ một chế độ bù nhìn do Hoa Kỳ dựng lên.
chienthangbiboquen1-hue1968Sự thật là, chiến thắng của Bắc Việt vào năm 1975 không hề được toan tính từ trước. Trên thực tế, trong suốt thời gian tiến triển, chiến tranh Việt Nam trở thành một cuộc tranh hùng gây cấn và bấp bênh cho cả Hà Nội lẫn Sài Gòn cũng như đồng minh của hai bên, Hoa kỳ và khối Cộng Sản. Mỗi bên đều luôn tìm cách thích ứng chiến lược và phương tiện quân sự của mình theo tình hình biến chuyển của đối phương và ngày hôm nay chúng ta được biết là trong cuộc chạy đua vũ trang này phía miền Nam thường tạo được nhiều chiến công hiển hách đáng ngưỡng mộ trong suốt chiều dài lịch sử của cuộc chiến.

Bán cầu não trái, phải & giáo dục, VÕ HIẾU NGHĨA tổng hợp & biên soạn

BỘ NÃO : BÁN CẦU NÃO TRÁI, PHẢI
VÕ HIẾU NGHĨA tổng hợp & biên soạn
 
Bài viết này nhắm đến con cháu của chúng ta, thúc đẩy cha mẹ chúng phân biệt được các con của mình thuộc nhóm thiên về bán cầu não trái hay phải, hầu giúp các cháu thăng tiến đến một ngưỡng tài năng mới, nếu không nói là siêu việt thì ít nhất cũng ở tầm cao, vượt xa mức trung bình.
 
 

KH NĂNG VÔ CÙNG LỚN CA NÃO B

Để hiểu được bộ não của chúng ta mạnh mẽ đến mức nào, chúng ta cần tìm hiểu về một số phát hiện của các nhà nghiên cứu về não trong suốt 50 năm qua.
Bộ não của chúng ta được cấu tạo từ hàng tỉ tế bào não còn gọi là nơ-ron thần kinh (neurone). Mỗi một nơ-ron tuy có kích thước cực nhỏ nhưng lại có sức mạnh xử lý thông
tin tương đương với một máy vi tính.  
Bộ lưu trữ thông tin của một nơ-ron cũng có sức chứa khổng lồ vì mỗi tế bào não bao hàm một bộ gen hoàn hảo của chúng ta đủ để tái tạo thêm một nhân bản giống y như chúng ta vậy. Trung bình có khoảng 1 triệu triệu (1.000.000.000.000) nơ-ron như thế cấu tạo nên bộ não. Trong khi đó, một con ong mật chỉ cần 7.000 nơ-ron để có thể xây dựng, duy trì một tổ ong, tính toán khoảng cách, hút mật hoa, sản xuất mật, có khả năng giao phối, chăm sóc ong con và có khả năng giao tiếp trong đàn. Sự so sánh này cho thấy chúng ta có một sức mạnh não bộ khủng khiếp. Chúng ta có quá nhiều nơ-ron đến mức nếu bạn có ít hơn vài triệu nơ-ron so với người khác thì cũng không khác biệt gì mấy.